Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2015

Thuyết hấp dẫn mới

Cái gì dù cho hấp dẫn đến mấy mà cũ mèm rồi thì sức quyến rũ cũng không còn lôi cuốn nữa. Sức hấp dẫn vì thế mất hiệu lực.

Cũ không có nghĩa là để lâu thành xưa. Nhà cũ không phải nhà cổ. Nhà cổ không phải nhà cũ. : tức rơi vào tình trạng suy đồi…thoái hóa!

Học thuyết cũng đồng chung số phận. Cũng kẹt vào cái vòng luân hồi ấy. Đấy là luật.

Đức Phật, người sáng lập tôn giáo từng nhìn suốt ba ngàn thế giới đã thấy trước chính học thuyết của mình rồi cũng sẽ bước vào con đường chung kết tất yếu ấy. Ngài đã nói trước [tiên tri] Phật pháp của Ngài rồi cũng sẽ đến ngày mạt pháp. Người duy nhất có đủ dũng lực nhìn nhận qui luật cay nghiệt này cũng áp dụng cho chính pháp đế của mình. Ngài nói: “ Ta biết những giáo lý của thế gian là những ảo thuật của những tên phù thủy. Ta thấy rõ tư tưởng cao siêu của sự giải thoát như là một miếng nhung vàng trong giấc mộng, và thấy thánh đạo của những kẻ thông sáng như những đóa hoa xuất hiện trước mắt một người. Ta xem sự thiền định như là một cột trụ trên núi cao và Niết bàn là một cơn mộng du giữa ban ngày.”[1]

Miếng nhung vàng trong giấc mộng”, nói như người Tây phương là củ cà-rốt trước mõm con lừa và người Việt thì bảo là bánh vẽ!

Ngài không tự mâu thuẩn với Ngài, như [Socrate phán quyết: “tất cả mọi người Hylạp đều nói dối”, mà Socrate chính là người Hylạp]. Cho nên cái Pháp của Ngài bị đẩy tới thời mạt vận là do những tên phù thủy biến Niết bàn thành cơn mộng du. Ngài không lạ gì thói người! Cái đám lòi tói đó!
Pháp của Ngài gồm cả mạt- vận -pháp. Đó là cái lý đương nhiên, cái lẽ thường tình.

PHÁP!

Cũ không còn quyến rũ nữa; vậy nên cần cái hấp dẫn mới.

Do đó một lý thuyết mới cần phải ra đời, một hấp dẫn mới cần phải có mặt, để “cảnh báo” và “chỉ ra” cho nhân loại cái nguy cơ đi lộn đường.

Newton, Einstein còn bị một nhà bác học Việtnam đẻ thiếu tháng rặng ra “thuyết hâm hấp dớ dẫn mới” lật nhào, còn được ông Pgs.Ts Viện
trưởng viện khoa học phát triển nhân lực và tài năng Việtnam tung hô và khuyến khích cứ tự nhiên dám nghỉ dám làm chớ có sợ bóng đè, được báo Thanh Niên tổ chức công bố ngày 25-11-2006 một cách trịnh trọng và đầy tự hào cái “hâm hấp dớ dẫn” đó cho cả thế giới tỏ tường và học hỏi.

[Web:www.thanhnien.com.vn/khoahoc/2006/11/10/69467.tno-71]. [Web:www.vnExpress.net.Vietnam/khoahoc/2006/11/3B9F070E]

Tâm đắc nhất là tuyên bố của ô.viện trưởng tài năng đó: biết đâu ô.ấy có thể tìm ra một cái gì đó bổ sung sâu thêm những điều Newton và Einstein đã nêu ra. Hay! Một công trình khoa học tầm cở siêu quốc gia đem ra công bố mà thậm thò thậm thụt lưỡng ước cầu may “biết đâu”-“có thể”-“cái gì đónhư xin xăm không bằng!

Công trình này vĩ đại trăm ngàn lần công trình nghiên cứu đã được MC Thanh Bạch công bố, khi được hỏi: “VN có công trình khoa học nào thành công không?”- “Có chứ, sau nhiều năm khổ công cặm cụi nghiên cứu, một nhà khoa học VN chúng ta đã cho ra đời một giống lai mới: bắp hạt lép!”. Vậy mà cái công trình T.Bạch công bố lại chắc như bắp chứ không phải đồ cùi bắp như cái dớ dẫn dị đoan kia.

Hay là hay ở chổ:
- người ta có thuyết hấp dẫn, mình có thuyết hấp dẫn mới! Oảnh nhé!
- người ta có sầu riêng hạt lép, mình có bắp hạt lép! Cừ nhé!

Tâm đắc là tâm đắc từ nay cái tâm bệnh ẩn ức của Việt Nam bung lò xo bật dậy đếch sợ con ngáo ọp nào, dầu đó là cây đại thụ hay cây da xà!

Và càng tâm đắc hơn nữa là được bị xúi dục “Đừng sợ!” theo Huấn dụ của Đức Giáo Hoàng GIOAN-PHAOLÔ II (2): dù là Lời Chúa cũng phớt tĩnh, mặc cho Lời Hằng Sống, “dù trái với Tin Mừng” mà Dostoievski: “Theo thiển ý thì điểm ấy như sau: Chúa đã truyền lại tất cả cho Giáo Hoàng rồi, bây giờ mọi việc đều do Giáo Hoàng quyết định.” (3) Dĩ nhiên là Giáo Hoàng quyết định chứ ai. Ai vào đây? “ Chúng ăn bánh ta và trở gót lại cùng ta” [Jésus]- Không ngoa gì mà người ta gọi đó là Đạo Giáo Hoàng là vậy!

Ăn cháo, đá bát” là qui luật của muôn đời của muôn vàn giáo thuyết!
Đó là lý do cùng nhiều lý do khác mới có “Thuyết hấp dẫn mới” này trình làng.

Trước khi vào chính đề, xin được có một chút phụ đề về tác giả và nguyên lai tác phẩm.

Người viết đây là một phu xích lô, nhân sau môt buổi mệt nhoài, dừng bánh, tạt vào cái quán càfê quen thuộc bên vỉa hè mà rủi ro nghe lóm được một anh phu huyên thuyên với các bạn đồng nghiệp chúng tôi về một đề tài khoa học thật sôi nổi và đầy hấp dẫn. Cuối cuộc diễn thuyết, anh cho biết đấy là “thuyết hấp dẫn mới” mà một anh bạn khác gọi là “thuyết hâm hấp dớ dẫn mới

Đã là một triết lý được đẩy lên tầm một triết giáo thì sao không khỏi những lập luận hợp lý chặc chẽ. Đó là phương pháp suy luận có chứng minh cụ thể nói có sách, mách có chứng bằng thường nghiệm. Không có chỗ hở cho phản biện. Không chối vào đâu được.

Khởi đầu anh ta cho là mục tiêu tối hậu của mọi sinh linh là phải đào thoát khỏi cái vòng luẫn quẫn sinh-tử/tử-sinh. Vòng loanh quanh đó được ví như cái quạt cối xay gió, nó xoay hoài: lộn đi rồi lộn lại. Cứ kẹt vào cái guồng quay đó mãi thì khổ viên mãn.

Trốn thôi!
Nhưng làm thế nào thoát?

Muốn thoát thì phải biết cái qui luật của nó – của luật tiến hóa –
Luật tiến hóa xác nhận: từ đâu tiến tới đâu? Nghĩa là từ căn nguyên mà tiến tới giải thoát.

Căn nguyên từ đâu?
- Khởi sự từ thần linh:
Qua lời Đấng Tới Cao (trong Yajur-Veda): “Brahmâ do nơi ta sinh ra, ở trên hết muôn vật. Ngài là Đại-Tổ (Pitâmaha) tức là cha chung của muôn loài, là Đấng tự sinh tự hữu (Svayambhù)”(4), được kể rằng: “Brahmâ say mê một người con gái mình là Samdhyâ (Hoàng Hôn) tức là vợ của Shiva. Nàng Samdhyâ sợ quá phải biến hình thành con hưu cái. Brahmâ bèn biến thành con hưu đực và đuổi theo nàng trên nền trời. Shiva thấy
thế nổi nóng nên bắn một mũi tên đứt đầu hưu đực và Brahmâ phải hiện nguyên hình.”

Và một chuyện khác kể rằng: “Brahmâ say mê một người con gái của mình là Ushas (Rạng Đông). Thần biến nàng thành con hưu cái và phạm tội dâm loàn với nàng.”(5)
“Ngày xưa không có thần thánh chỉ có Trời và Đất thôi, Trời và Đất là bậc phụ mẫu đầu tiên sinh ra giống người khổng lồ Titans. Giống người này cai trị thế giới hằng bao nhiêu thời đại. Sau cùng các vị thần, con của giống khổng lồ Titans này nổi loạn và lật đổ họ. Thần Zéus là chúa tể toàn vũ trụ, vợ và cũng là em của thần tên Hera trở thành hoàng hậu.”(6)
Thần thì vô Đạo. Đành hanh thô lỗ. Đố kỵ hằng thù. Dâm dục vô luân. Cái bản năng ấy khi nó đã chuyển qua hợp đề nó vẫn còn đậm nét nơi loài thú hoang: cha lấy con, con lấy mẹ, anh lấy em. Xử với nhau theo “luật rừng”: khôn sống, mống chết.
Cái đám Titans mất dạy đó vẫn còn thua xa bọn Satans khốn kiếp ngày nay. Và chúng đều được thờ. Là thần mà! Sao không?
Nhưng chúng chỉ có khổ đau và đau khổ!
Phản đề là loài người: đã bước một bước tiến hóa, bớt đi cái vô đạo bạo ngược kia, tức tiến tới một trình độ có văn hóa hơn. “Hình thức con người cao siêu hơn hình thức thiên thần”[Vivekananda]. Và Vikananda dẫn chứng: “Du già sư Patanjali của ta viết rằng: “jâtyantara parinâmah prakrityâ-pùrât = “giống loài này (jâti) hóa thành giống loài nọ - tiến hóa. “Parinâmah” có nghĩa là vật này thành vật nọ cũng đúng như giống này thành giống nọ”(7).
Cứ mỗi một phản đề tức một bước hóa văn, gọi là tiến hóa. Lương Tri chính là cái phần thưởng xứng đáng mà “thần” nào gây nghiệp tốt được hưởng, tức được tái sinh thăng cấp “làm người”.
Người mà vô đạo, tức mất đi cái nhân tính làm người của mình thì kiếp tái sinh của nó sẽ trở về chốn cũ, nghĩa là trở lại với bản năng thần linh của mình. Cái bản năng vô văn hóa hằng có đó.
Nhưng nếu nó biết ăn ở hợp đạo người, nó cũng sẽ không biến chuyển gì hơn; nó lại phải ở kiếp người vĩnh viễn. Theo đạo người thì chỉ có làm người thôi. 
Chỉ khi nào nó phá vỡ được cái đạo nhân ấy, cái đạo lấy lương tri làm chuẩn mực, làm căn bản gọi là nhân bản đó thì nó mới hòng thoát khỏi kiếp nhân sinh.

Loài thú là loài ý thức về hành vi của mình mờ nhạt hơn. Cái tạo nghiệp chính là cái ý thức. Mất ý thức về sự phân biệt nhị nguyên “thiện – ác” là đạt Đạo Muông. Còn phân biệt Đúng-Sai là còn vô minh là còn trụ ở đạo người.

Hành động thế nào cho phi-thiện – phi-ác, tức phải thoát khỏi cái lương tri thì mới không còn gây nghiệp nữa. Không còn gây nghiệp mới tới bờ giải thoát. Vì gây nghiệp thiện sẽ hưởng quả thiện, gây nghiệp ác sẽ hưởng quả ác tức là còn ngu độn, ngu lậu, còn mờ tâm vì màng vô minh chưa bị phá tân thì vẫn cứ bị bánh xe luân hoán nó quay đều…quay đều… vòng vo mãi mãi…viên mãn!

Một khi nó không còn vô minh trong cái vòng luẫn quẫn nhị nguyên thiện-ác nữa, nó đạt cảnh vực phi-nhị-nguyên tức đạt đến đích điểm chuyền hóa luân thì sẽ được thảnh thơi bước thêm bước nữa. Nó không còn kẹt vào cái lương tri nữa, nó sẽ được lai sinh vào kiếp muông.

Là thú thì nó ít gây nghiệp nhất vì nó đang trong tình trạng phi thiện – phi ác. Đứa nào còn vô minh, còn phân biệt thiện-ác, nghĩa là còn ý niệm nhị nguyên thì lộn trở về làm người, nơi còn cái lương tri để phân biệt cái đúng cái sai, cái thiện cái ác.Tri thiện, tri ác, tức thị lương tri” [Dương Vương Minh] mà ẩn dụ là Cây phân biệt điều thiện và điều ác [Cựu Ước].
Cái “Lương Tri” chính là sản phẩm hóa văn độc đáo vô nhị mà con người thâu hoạch được trong quá trình tiến hóa bước một bước thăng hoa làm Người. “ Lương Tri là Đạo Người”

Đạo Nhân là của người, Đạo Muông là của thú.

Nếu vẫn cứ ở trong cảnh vực bất nhị thì thú cũng hoàn thú không thể chuyển hóa luân để tiến hóa được.

Từ động vật sẽ chuyển thành thực vật.

Động vật tính là xích xiềng, và giải thoát là bức xiềng xích. Sợi xích thằng của nó là sự luyến ái – một mảng nhỏ của nhị nguyên: còn yêu tức còn ghét. Còn đành hanh, còn dành lãnh địa, dành cái, còn ngoại tình như
các nàng đà điểu…là còn xúc động tình cảm: vẫn còn thương yêu, đùm bọc, chở che con cái. Tình yêu in dấu ấn từ thần linh đến con người và còn lưu truyền tới muông thú; như hợp đề vẫn còn hơi hướm của phản đề và tiền đề phản phất lại.

“Ai có một trăm tình yêu, sẽ có một trăm đau khổ;
Ai có chín mươi tình yêu, sẽ có chín mươi đau khổ;
Ai có tám mươi tình yêu, sẽ có tám mươi đau khổ;
Ai có một tình yêu, sẽ có một đau khổ,
Và ai không có tình yêu nào, sẽ không có đau khổ
[Udâna, VIII,8] Đức Phật đã nói như vậy!

[“Sans amour : không tình yêu
Sans souci : không âu lo
Sans problème” : không rắc rối - (lời của một ca khúc Pháp) -]

Con nào đột phá bức xích được cái nhị nguyên mơ hồ đó: đẻ con ăn con, không đôi không cặp không vợ không chồng – không xúc động luyến ái: đơn giản chỉ là tình dục. Ái ân thôi! Không cha không mẹ: chỉ vì tình dục mà tôi được sinh ra theo nguyên lý sinh học thôi. Ấy, khi ấy nó mới thoát được kiếp động vật, chuyển sang kiếp thực vật.

Thực vật có sinh hồn mà không có giác hồn, cho nên nó chỉ có mỗi nhiệm vụ sinh sản là cùng. Sự đành hanh giảm đến mức epsilon, luyến ái quan bị triệt tiêu. Nhưng đứa nào còn tham sống, sợ chết thì chịu khó ở lại làm thực vật tiếp. Chính Nguyễn Công Trứ muốn quá độ, đốt giai đoạn, nhảy chồm qua kiếp động vật mà nhào thẳng vào kiếp cây cối: “Kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.” Đấy, không phải thăng hoa sao?

Nhưng thực vật hãy còn cái đà sống [élan vital] trong cơ năng sinh hoạt [fonctions vitales] nên đàng nào nó cũng còn tính phản ứng sinh hoạt [réactions vitales], chi cho nên nó cũng còn thụ hưởng và tham sống.

Nó vươn ra tìm ánh sáng, rễ hút chất màu: tranh hết quyền lợi sự sống của những đứa khác: đứa đó ở lại làm thực vật tiếp muôn kiếp.

Đứa nào chịu bó tay tĩnh tịch không tranh giành chi hết cho nên không lưu nghiệp – xem như thua keo này gầy keo khác – sẽ tiến hóa qua kiếp lai sinh tốt hơn. Bước kế tiếp của nó là khoáng vật.

Đến khoáng vật thì không còn gọi là đời sống nữa. Không sinh hồn. Không giác hồn. Không sinh. Không tử. Đây mới là đến cái cảnh vực “tịch nhiên nhi nhiên”. Nhưng vẫn còn hiện hữu. Vẫn còn hữu thể. Đây là giai đoạn sau cùng để bốc hơi. Giai đoạn êm ã nhất, bình yên nhất; không còn sợ trở lui nữa, chỉ có tiến tới. Tiến tới GIẢI THOÁT!

GIẢI THOÁT ở đây đồng nghĩa với HAO MÒN. Cứ hao mòn…hao mòn dần cho đến khi nào hết thì thôi.

HẾT là GIẢI THOÁT.

Như Đức Phật so sánh : như hòn núi kia mà lấy khăn lau, lau cho đến bao giờ nó mòn hết đi là giải thoát. Chỉ còn ý nghĩa thời gian.

GIẢI THOÁT là VÔ…VÔ là HẾT… HẾT là VÔ.

Giảng tới đây diễn giả bị chất vấn:
- Giữa thần và người có mối liên hệ nào không?
- Có chứ: thần nhân!
- Giữa người và động vật có liên quan gì với nhau không?
- Có chứ: loài linh trường
- Giữa động vật và thực vật có giây mơ rễ má gì nhau?
- Có chứ: loài cây ăn thịt sống!
- Giữa thực vật với khoáng vật lại có ăn nhập gì?
- Có chứ: loài san hô!
Cử tọa : Ừ nhỉ!

Diễn giả tiếp: Sự chuyển hóa bao giờ cũng mang tính liên tục. Đứt đoạn là hết. Có bao giờ sự sống đứt đoạn mà sự sống vẫn tiếp tục tồn tại? Cho nên chuyển kiếp dù từ chủng loài này đến chủng loài khác cũng vẫn tồn lưu cái tiền kiếp, nói như triết giáo nọ, đàn bà mà có lên thần đi chăng nữa thì cũng phải trải qua kiếp đàn ông đã (*), rồi muốn thoát đi đâu thì đi.

Chuyển kiếp chính là phản đề, thì trong phản đề vẫn còn cái hơi hướm với tiền đề chứ không bao giờ quay lưng làm ngơ giả không quen biết với tiền thân của mình.

Đó là qui luật! Không có cách nào khác!

Con đường một chiều (one way) không có cửa cho bất kỳ loại ưu tiên nào.

Qui luật này duy nhất, bất biến, thường tại và bền vững miên viễn.

Ấy cho nên cái giao thoa giữa hai chủng cấp có chủng loài trung gian.
Giữa thần linh và người thì có loại thần nhân: bán thần bán nhân!
Giữa người và thú thì có khỉ-vượn-đười ươi. Và thử quan sát một giai đoạn nhỏ của tiến trình tiến hóa giữa người thành vượn thì có loài: người không ra người, ngợm không ra ngợm!

Giữa muông thú và cây cỏ thì có loài thực vật ăn thịt sống: nữa thực vật nữa động vật.

Giữa thực vật và khoáng vật thì có loài san hô: có ăn, có sống, có sinh, có tử.

Đến khoáng vật thì bất sinh, bất tử: chỉ có hao…mòn…cho đến…hết!
Chính cái tính thể bất sinh bất tử nơi khoáng vật mới là cái đà vọt vào cái VÔ, là cảnh vực thường tại của bất sinh bất tử.

Khoáng vật là trạm dừng cuối cùng trên cuộc hành trình về giải thoát.
Và ta nhìn lại con đường vạn lý trường chinh đó ta mới nhận ra cái chuỗi sự sống được nối kết bền chặc với nhau qua những mắt xích liên kết chặc chẽ của tính liên tục. Chủng tử tiềm phục trong bản ngã sự vật, nói như
khoa học ngày nay là cái gène nó lưu truyền theo giòng sự sống bền vững trong tính thể của nó – nói một cách khác, nó tiềm ẩn trong mỗi hữu thể dầu cho hữu thể đó tiến hóa ra sao nhưng nó vẫn cứ miên tục thường tại hằng hữu; cho nên nó bảo vệ được tính liên tục. Đó là chủng tử sự sống.

Dù cho nó chuyển qua khoáng vật, nó cũng chuyển một cách êm ã nhẹ nhàn từ sự sống sang bất tử như cái khoản lặng trong âm nhạc. Cái khoản lặng êm dịu đó chỉ là sự chuyển tiếp vào một giai điệu khác thành một biến tấu mới trong cái hòa điệu vĩnh cửu.

Diễn giả lại bị cật vấn nữa:
Hỏi:- Ông nhiều chuyện quá; nói huyên thuyên hòng đánh lạc hướng người nghe chứ gì? Ông dấu đầu mà chỉ cho lò cái đuôi. Tắt một lời, ông trả lời câu hỏi muôn đời này: “ Ai sinh ra thần?”

Trả lời: - “Ai biết được đích xác, ai có thể nói rõ nơi đây xem sự sáng-tạo này phát-xuất tự nơi đâu? Các thần-linh ra đời sau sự sáng-tạo thế-gian này, vậy ai biết do đâu mà có sự sáng-tạo?

“Sự sáng-tạo do đâu mà có? Có hay không có sáng-tạo? Chỉ có Đấng Cai-quản thế-gian ở trên tầng trời cao nhất là có thể biết được, mà có khi chính Ngài cũng không thể biết nữa.”(8)

Hỏi: - Ko Veda? Ai biết? 

Trả lời: - Ông chứ ai!

Câu trả lời chấm dứt câu chuyện.
¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤
(1).- Thiền Sư MUJU-Đỗ Đình Đồng dịch-“ Góp nhặt cát đá”-tr.115-116-Lá Bối xb.Saigon-1972-

(2).- dẫn từ “Bước vào hy vọng” của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II….Câu hỏi đầu tiên này làm cho tôi nhớ ngay đến lời huấn dụ khi tôi mới bắt đầu sứ mệnh của tôi trên ngai tòa Phêrô: “Anh chị em đừng sợ!”…Lúc đó tôi có thể tự nhủ: Đừng sợ khi người ta gọi mình là Đại Diện Chúa Kitô, khi người ta gọi mình là “Đức Thánh Cha”, hay khi người ta dùng những từ ngữ tương tự như vậy, cho dẫu những từ ngữ ấy có vẻ trái ngược với Tin Mừng. Thật vậy, chẳng phải Chúa Kitô đã từng
nói: “Anh em đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để cho ai gọi mình bằng Thầy, vì anh em chỉ có một vị Thầy là Đức Kitô” sao?(Mt 23,9-10). Tuy nhiên, những từ ngữ này được xây dựng trên một truyền thống lâu đời và đã đi vào trong ngôn ngữ thường dùng, và ngay cả những từ ngữ này ta cũng không nên sợ.
 [Bước vào hy vọng – Nhóm Tin Yêu dịch – tr.28-30].

Đức Jésus há chẳng biết “những từ ngữ này dược xây dựng trên một truyền thống lâu đời và đã đi vào trong ngôn ngữ thường dùng của người Do Thái sao”? - Ơ, hay đó bay!

Ngài là Ngôi Lời, và Ngài đã từng nói: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng Lời Ta nói chẳng bao giờ qua đi”.[Mat.24:35]- Nhưng với bọn phù thủy [lời Đức Phật] thì mặc cho đó là Tin Mừng thì Ngôi Lời cũng ngũm!

(3) “Vị đại pháp quan tôn giáo” trong “Anh Em nhà Karamazov –tr.285- Vũ Đình Lưu dịch – Nguồn Sáng xb-

(4) Ba Ngôi Tối Linh – Brahmâ, đấng Sáng-tạo – tr.79 – [Lê Xuân Khoa – Triết học nhập môn Ấn độ - Trung Tâm Học Liệu-Bộ GD. Xb-1972-]

(5) chú thích (4) –tr.81-82

(6) Doãn Quốc Sỹ: [“Thần thoại © tr.44-45- Sáng Tạo xb.]

(7) Vivekananda-[“Tôn giáo là gì”-tr.117-Vương Gia Hớn dịch-An Tiêm xb.1970]

(8) Rig Veda X:6,7 [sách dẫn trên(4)-tr.200-]

(*)-Trong Kinh Sách khác cũng để lại dấu ấn không mấy tốt đẹp về thân phận người phụ nữ: “Nói một cách đại khái thì, đối với việc tu đạo, Phật quan niệm rằng phụ nữ kém nam giới, đó là một sự thật, cứ xem trong các kinh điển có nhiều chổ nói về những nhược điểm của phụ nữ cũng đủ rõ.”[tr.312-“Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận”-KIMURA TAIKEN].

Và “Duy về phương diện pháp tướng thì giữa nam giới và nữ có sự khu biệt. Chẳng hạn, một trong những sự khu biệt đó là đàn bà không thể là Như Lai (và Chuyển-Luân-Thành-Vương).[tr.313-sd-]

Và “Nếu nói theo pháp tướng, thì đàn bà, nếu kiếp sau sinh làm đàn ông, sẽ có thể làm Như Lai (và Chuyuển Luân Vương). Như vậy, đàn bà kém đàn ông chẳng qua cũng chỉ cách nhau một kiếp mà thôi. [tr.314-sd-]

Như lời Nguyện (thứ 35)của Đức Phật A Di Đà: “Tôi thành Phật rồi, nguyện cho hàng phụ nữ trong ngàn muôn và vô số cõi Phật, hễ nghe danh hiệu tôi, bèn ra sức tinh tấn mà trì niệm, phát tâm tu đến thành Chánh giác, nhàm chán sự luân hồi làm thân phụ nữ, như vậy nếu về sau có sanh ra nữa, thì khỏi mang thân phụ nữ.”[tr.129-“Các tông phái đạo Phật”-Đoàn Trung Còn-xb,Thuận Hóa-1995].

-“Tóm lại, nếu xử lý về phương diện hình thức thì, dĩ nhiên, đức Phật đã coi phụ nữ kém nam giới.”[tr.316-NTPGTTL-sd. trên]

Vài lời bạt: Từ ngữ “ cảnh báo” và “chỉ ra” ở giữa trang đầu, mở đầu việc trình bày thuyết dớ dẫn nào đó đảo chánh Newton và Einstein là chôm của tác giả lập thuyết đó chứ người viết bài này đố cha nó dám lếu láo thế. Xin trình.
Và cảm nhận từ huấn dụ Anh chị em đừng sợ ” của GH. Jean-Paul II, người viết xin có bài vè đính kèm biếu bạn đọc cho bớt khô cổ sau khi đọc mấy trang trên, xem như khuyến mãi: 
- Đá Chanh:
Đá chanh uống cho thanh giọng
Cho thông vọng ngữ, cho thuần vong ngôn
Cho lộn dây lái dây lèo
Cho Hiếu Đạo cũng tùng phèo dây cương
Giêsu Ma!!! Giêsu Ma!!!
Ai là cha??? Ai là cha???
Đá chanh
Đánh cha
Bất hiếu

Cương thường đứt dây!

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

Căn nguyên tình yêu

Căn nguyên tình yêu


Nhiều nền văn minh cho đến bây giờ mà chúng ta được biết chỉ hơn kém vào khoản mười ngàn năm nay, thậm chí kể đến thời kỳ người Cromagnons hay Néantherdans cũng chỉ trên dưới hai chục ngàn năm, tức vẫn còn trong thời kỳ đồ đá mới.

            Nhưng có một nền văm mimh cổ đại hơn cả lại xuất hiện đã hơn 40 ngàn năm rồi. Đó là nền văn minh Polynésie, một quần đảo nhỏ nằm trên vùng cực nam Thái Bình Dương. Đó là nền văn minh của người Mélanésiens mà di chỉ trống đồng của họ rãi từ đó ra khắp Đông Nam Á. Và di chỉ văn hóa phi vật lý khá ấn tượng của họ là hệ thống Kinh Thánh ăn đậm vào nhân loại đến nổi gần như đọc Kinh Thánh nào cũng như Kinh Thánh nào. Chuyện thần thoại của người Mèo ở thượng du bắc bộ Việt Nam có khác nào kinh Cựu Ước của người Do Thái? Cũng lấy đất sét nặn ra muôn loài, cũng có tháp Babel bị phá sập vì cái tội leo trèo của con người, cũng có lụt hồng thủy giết sạch sành sanh để trừng phạt con người ăn ở vô đạo như cầm thú. Nhất là chuyện nhân loại được nặn ra từ đất sét chẳng khác Prométhée lấy đất sét nặn ra con người. Mỗi nơi một cách kể. Người Mélanésiens kể như vầy:

          Từ thuở hồng hoang đã có mẹ đất Papa và cha trời Rangi luyến ái nhau mà có sự sống xuất hiện (1). Và các Ngài cũng muốn sự sống luyến ái nhau mà lưu truyền giống nòi. Mỗi sự sống Ngài tạo một cách riêng. Con người, giống loài sinh sau đẻ muộn nhất được làm ra từ đất.

        

         Khi ấy mặc đất còn ẩm ướt, đất còn nhão và Ngài lấy một nắm nặn ra con người đầu tiên. Cũng theo hình ảnh của các Ngài, Ngài nắn thành hai con người. Công trình của Ngài sắp hoàn tất, và Ngài muốn công trình sau cùng này thật hoàn hảo nên Ngài hà hơi sự sống vào để xem cách thức nó sinh động mà biết cần phải gắn vào đâu chổ cần thiết cái nhúm đất còn lại cho hoàn chỉnh. Trong lúc Ngài đang ngắm nghía cái công trình tuyệt hảo ưng ý nhất này của Ngài thì một trong hai nhân vật ấy hai tay  nhanh như chớp chộp ngay hai nắm đất và khum tay ịn vào phía trước thân thể mình. Nhân vật thứ hai thấy vậy bèn vội vàng vói một tay ra vét chút đất cỏn con còn lại và ghim ngay vào chổ đang thuận tay buông thỏng mà chưa kịp nâng lên cao hơn.

           Nhân vật thứ nhất thấy người kia lấy hết không còn gì nữa bèn kiện với Papa đòi người kia phải trả cho mình cái phần còn lại sau hết đó. Rangi và Papa phân xử nhưng người thứ nhất ấy nằn nặc đòi, liên tục kêu gào cho bèn được. Papa và Rangi  phải dàn xếp với người thứ hai chia bớt lại cho người thứ nhất ấy chút đỉnh để mua sự bình an. Người thứ hai cũng không vừa gì, khiếu nại rằng nó lấy tới hai nắm to, còn tôi vét chưa đầy một nắm tay, đáng lẽ nó phải chia cho tôi chứ sao tôi phải chia cho nó. Cuộc điều đình cứ càng lúc càng căng, dằng dai mãi…cho đến khi cặp mắt người thứ nhất bắt đầu chảy nước…và nước mắt lăng trên má! Người thứ hai thấy vậy cũng bắt đầu dịu giọng. Thấy người thứ hai có vẻ mũi lòng, tình thế như xoay chiều thậu lợi cho cuộc điều đình nên Papa và Rangi tấn công đòn tâm lý sau cùng với người thứ hai rằng, ngươi có muốn yên ổn thì nên nhường bớt cho nó đi chứ nó cứ nói hoài nói mãi có chịu nổi không? Lời cảnh tĩnh có vẻ hợp lý, nên người thứ hai cũng ưng thuận.

            Thế là Rangi Cha Trời bảo người thứ hai đứng sát vào người thứ nhất cho nó lút cái kia vào rồi Ngài sẽ cưa đôi. Người thứ hai làm theo hướng dẫn đó; nhưng Cha Trời mới vừa đưa cưa vào chưa kịp cưa thì người thứ hai vì tiếc rẽ nên liền rút ra không chịu cho cưa. Thế là Mẹ Đất phải nhiều lời khuyên nhủ nữa, khuyến khích nữa người ấy mới chịu thực hiện lại việc chia của này. Cha Trời cũng mới vừa đưa cưa vào thì nó cũng lại rút ra. Lần này thì Cha Trời, Mẹ Đất cũng đành bó tay vì nó khăng khăng trả lời dứt khoát không chịu để mất dù một chút mặc cho người thứ nhất dậm chân tiếc rẽ, bất chấp lời dụ ngon dổ ngọt của Papa và Rangi. Cuộc điều đình thất bại. Việc chia của bất thành. Vậy là từ ấy, con người ổn định như thế đấy.

             Và Cha Tời, Mẹ Đất đặt tên cho hai người; gọi người thứ nhất là Nữ và người thứ hai là Nam, rồi truyền cho họ mệnh lệnh phải lưu truyền nòi giống. Họ vui vẻ nhận lời.
              Khi Cha Trời Mẹ Đất đi rồi, hai người lại hục hặc nhau cũng vì cái chút đất của bên kia và của bên này. Họ lại cải vã. Bên này bảo đáng lẽ cái kia là của mình, và bên nọ lại nói đúng ra cái đó là của mình. Không chỉ họ nói bằng lời mà họ còn hành động nữa. Người này đưa tay qua chụp cái bên kia dành lại, người nọ vói tay qua kéo cái đó về cho mình. Cứ thế họ dằng co. Họ thử nhiều lần. Và họ biết bất quá cũng chỉ có sờ được thôi chứ không lấy được nên họ cũng không còn cố tình quyết liệt giựt cho bằng được như những lần thử nghiệm đầu nữa. Cứ lâu lâu nhớ trực lại, lại tiếc rẽ…lại rình cơ hội sơ ý của bên kia; bên này đưa tay chộp lấy. Họ vờn nhau như thế. Không được gì, nhưng ít ra cũng chạm được cái mà mình tưởng là của mình. Tay thì được hưởng cái cảm giác như được của  mất: hồi hộp và sung sướng! còn lòng thì hoan hỉ nghĩ rằng của mình còn đây! Mãi rồi thành cố tật. Ăn quen, nhịn không quen là vậy.

              Mà cứ mỗi lần họ định cướp của nhau như thế, bàn tay họ vừa sờ cái bên kia thì hình như có một mãnh lực nào làm cho lòng họ xao xuyến. Mỗi lần như thế, chỉ sờ được của bên kia thôi thì họ có cái cảm tưởng như là sờ của chính mình vậy và cảm thấy lâng lâng một cảm giác xôn xao hoan hỉ. Riết rồi họ xem như cái của bên kia chính là cái của mình. Cho nên mỗi khi họ nắm được cái kia trong tay họ, họ đều thốt ra lời âu yếm “mình ơi! mình ơi!” bằng cử chỉ nựng nịu, tưng tiu triều mến và khi ấy lòng họ đầy hoan lạc. Nhưng người Nữ không bao giờ quên nhắc nhở người Nam rằng cái dấu ấn kia, chính xác là cái vết thương ấy nó vẫn tươi cho đến ngày nay, là do lỗi của người Nam thậm thò thậm thụt rồi lại nuốt lời mới ra nông nổi ấy, cho nên đòi ngưới đàn ông phải chịu hoàn toàn trách nhiệm mỗi khi viếng thăm nó.

              Không ngoa! Quả là người đàn ông đi kiếm, đi tìm chẳng những là thăm viếng mà để an ủi vết thương - chính là ấn tích của mình – một phần trách nhiệm lưu dấu.

              Rồi từ đó, họ mặc nhiên công nhận cho nhau.
              Cũng từ đó, họ không còn coi cái đó là của riêng mình nữa.

              Khi ý niệm ấy đã trở thành minh nhiên thì cũng là lúc họ lập ra giao ước: “giữ gìn cho nhau”;  nghĩa là mình giữ là giữ cho bên kia. Cả hai ý thức rằng “của” là của bên kia, mình chỉ có bổn phận bảo quản thôi. Quyền sử dụng đã thuộc về bên kia và không phải là của riêng chính mình nữa. Vì thế, một khi mình tự hưởng dụng cái của mình, ấy là gian lận, nghĩa là vi phạm giao ước – xem như một hình thức lén lút bội ước -  nên bị lên án.

          Cũng từ đó, họ gọi nhau là “mình” để xác nhận sự hiện hữu của mình – dầu là hiện vật nhỏ nhưng giá trị cao, vì cả hai đều công nhận là của quí - đang hiện diện ở bên kia.

              Và từ đó, sự ràng buộc nghĩa vụ được xem là sự gắn bó tự nhiên.

              Dần rồi cái chuyện “viếng của” đó trở thành nghi thức.

              “Viếng Của” là nghi thức mở đầu, và “Trao Của” là nghi lễ kết thúc.

              Nghi thức Trao Của được xem như là một nghi lễ trả của là trách nhiệm và bổn phận của người đàn ông phải thực hiện vì nuốt lời ở những lần lừng khừng đổi ý đầu tiên nên phải trả lại cho bên kia cái gì thuộc về bên kia theo như sự ưng thuận lúc ban đầu. Và ý niệm công bằng phát sinh từ đó. Từ đó “công bằng” có nghĩa là cái gì không phải của mình phải trả lại cho người sở hữu. 

              Nghi lễ trao của lập lại cái động tác ban đầu lúc Cha Trời bảo người Nam đưa cái của người Nam cho lún phập sâu vào người Nữ. Nghi lễ này nhắc nhở người Nam nhìn nhận cái này là của người Nữ và người Nữ phải đưa hai cái kia cho người Nam nắm giữ để xác nhận cái của ấy thuộc quyền sử dụng của người Nam. Nghi lễ hừng hực hiến dâng này là xác nhận mối tương giao bình đẳng, tương đồng cảm xúc: cả hai bên đều có lợi!

            Mỗi khi lập lại nghi thức ấy, người Nam cũng làm cái hành tác giống  y như lúc ban đầu; nghĩa là đưa vào rồi lại rút ra, rồi lại đưa vào rút ra tượng trương việc trả lại tài sản cho người Nữ và cũng không quên trả luôn cái phần lời mà cái của người Nam sinh lợi. Chính cái phần lời đó làm thành cái hoan lạc cho cả hai: người Nữ hoan hỉ do được hưởng lợi nhuận, còn người Nam thì sung sướng vì đã làm xong một nghĩa vụ công bằng.

               Cái cảm giác lâng lâng của nghi thức mở đầu cũng như cái cảm xúc hoan lạc của nghi lễ kết thúc đã tạo nên cái xúc cảm luyến lưu gắn bó không thể chia lìa của đôi Nam-Nữ định hình thành “ý thức hợp nhất” gọi là TÌNH YÊU.

                Và từ đó, luyến ái được xem như nghi thức nhìn nhận giá trị thân xác trong tình yêu.
             
        Và tình yêu là phần thưởng vô giá của nhiệm vụ lưu truyền nòi giống.

       Và con người mang hình ảnh Cha Trời Rangi và Mẹ Đất Papa trong cuộc luyến ái nhau mà có sự sống xuất hiện – con người truyền sinh. 
                                                                                       
========

@-(1):[Doãn Quốc Sỹ-Thần Thoại C: “Thần Thoại Pôlinêsia”- Sáng Tạo xb.-Saigon]




Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Jésus đã nói như vầy

Ainsi Parlait Jésus

        Ta đã đến. Đến để xem cách chúng ngươi ăn bánh của ta và xử sự với ta thể nào. Có chút lịch sự nào không hay vẫn cứ cái thói thô lỗ như ngày nào.

        Hôm đó ta có mặt. Chúng ngươi đang xử anh em ta mà chúng ngươi cho là tà giáo…là kẻ thù của chúng ngươi… và  chúng ngươi đã nhận ra ta và đến gặp ta. Chúng ngươi điểm mặt ta, chúng ngươi dạy ta…không phải ta buồn như đêm nào ở vườn Giêc-sê-ma-ni đâu. Ta quay đi là để cho chúng ngươi biết thái độ dứt khoát của ta với chúng ngươi là thế nào. Ta đã quay lưng lại với chúng ngươi.

 “Không phải Ngài muốn trở lại trong ánh vinh quang rực rỡ từ Đông sang Tây với những cuộc triển lãm tội ác tầy trời như vậy. Không, Ngài muốn xuống thăm con của Ngài giữa nơi lửa thiêu những kẻ theo tà giáo.”

”vị vị Đại Pháp Quan nói: ”ngày mai tôi sẽ lên án ông, và ông sẽ chết thiêu như kẻ tà giáo tồi tệ nhất. Ngày mai tôi chỉ giơ tay lên là đám quần chúng đã hôn tay hôn chân ông sẽ chạy ồ lại đốt giàn hỏa thiêu ông. Ông biết thế không? Có lẽ ông biết. Ông nói đoạn, đứng trầm ngâm; mắt vẫn không rời Chúa Trời bị giam.”

Vị Pháp quan mở cửa nhà giam và bảo Chúa: “ Chúa đi đi, đừng bao giờ trở lại đây nữa!”

Chúa lững thửng đi vào thành phố tối tăm…” (*)

[ DOSTOIEVSKI – “anh em nhà KARAMAZOV” – VŨ ĐÌNH LƯU dịch – NGUỒN SÁNG xb. Trích đoạn trong cuốn 2/5: các trang 282-283-284 và 302 ]

        Lần đó ta mới biết rằng ta với chúng ngươi không quen biết : vì ta không còn nhận ra ta nữa! Ta đã đi lạc đường qua Vatican mà ta cứ ngỡ là Nazareth năm xưa.

        Kalilh Gibran đã bao lần hỏi ta : Ngài có biết Ngài là ai không? Nếu bí mật Ngài gặp lại Ngài, liệu Ngài có còn nhận ra chính Ngài không?

“ Cứ mỗi một trăm năm,
Trên những ngọn đồi Liban.
Giêsu Nadarét gặp Giêusu của người Kitô.
Sau những cuộc đàm đạo lâu dài
Trong một của các khu vườn,
Mỗi người lại đường ai nấy đi.
Và mỗi lần như thế,
Giêsu Nadarét nói với Giêsu của người Kitô:
“ Ông bạn ơi, tôi sợ là không bao giờ,
Không bao giờ chúng ta có thể đồng ý với nhau được. ”

                           -Khalil Gibran -
[dẫn lại từ “cônggiáo và dântộc” nguyệt san số 7- tháng 7-1995 – tr.49]  

        Nay ta thử đến, ta thử gặp mình, xem mình với ta tuy hai mà có một không: không, hai vẫn cứ là hai: từ Nazareth đến Vatican xa vời vợi và càng ngày khoảng cách càng xa mịt mờ. Và hôm đó ta đến là chỉ để khẳng định: ta quay gót!

        Ta biết ngôn ngữ nào ta nói ra chúng ngươi biết. Và chúng ngươi đã biết. Chúng ngươi đã bảo ta đừng quay lại nữa.

        Chúng ngươi đuổi ta như chúng ngươi đã từng truy nã ta.

        Chúng ngươi lên án ta như chúng ngươi đã từng đóng đinh ta trên cây thập giá.

     
 Chúng ngươi chế nhạo ta như chúng ngươi đã từng treo bảng “inri” để báng bổ ta.
        Chúng ngươi sỉ nhục ta như chúng ngươi đã từng đội mão gai cho ta.

        Chúng ngươi lột áo ta ra rồi đem chia của như quân cướp.
   
        Chúng ngươi mang ta ra chiến trường làm bia đở đạn cho chúng ngươi.

        Chúng ngươi đem ta đi chinh chiến cho hương liệu của chúng ngươi.

        Chúng ngươi đem ta đi cướp đất cho chúng ngươi.

        Chúng ngươi bán ta để xây đền thánh cho chúng ngươi.

        Chúng ngươi xẻ thịt ta ra như chúng ngươi tùng xẻo bò để chia phần hưởng thụ.

”Ta là người chăn chiên hiền lành, vì chiên, ta phó thác sự sống mình; còn các ngươi chỉ là kẻ chăn thuê: nếu thấy muông sói đến thì các ngươi bỏ chiên mà chạy trốn. Các ngươi lo việc xắn lông chiên hơn là chăm sóc chúng vì chiên không thuộc về các ngươi!” [Gioan.10:11]

 “Ngươi ăn bánh ta, rồi trở gót nghịch cùng ta.”   [Gioan. 13:18]

Ớ quân pharisieu ngày xưa!
Ớ quân tư tế ngày nay!

      Chúng ngươi gỉa hình sa nước mắt cá sấu mà chúng ngươi tưởng lấy được vải thưa mà che mắt thánh? Chúng ngươi trịnh trọng đưa ra lời xin lỗi Galilee!!! Sao chúng ngươi không xin lỗi Gioani Bruno…người ma chúng ngươi đã nướng trên giàn hỏa???

      Người mà chúng ngươi thiêu trên giàn hỏa, chúng ngươi không xin lỗi!
      Người ngươi không thiêu thì chúng ngươi bày ra cái trò sa nước mắt cá sấu xin lỗi nhố nhăng!

“Các ngươi có nghe lời phán của người xưa rằng: Ngươi chớ giết ai; và rằng: Hể ai giết người thì đáng bị tòa án xử đoán.”    [Mat.5:21]

      Ta bảo thật chúng ngươi, con cháu Bà Eva đời đời vẫn nhắc nhở lời thách đố của chúng ngươi với ta, và đời đời dòng dõi chúng ngươi cùng dòng dõi Bà nghịch thù nhau vĩnh viển    
Ta nhắc cho chúng ngươi nhớ lần sau cùng và không bao giờ lặp lại nữa: Lời ta là lời hằng sống.  “Trời đất sẽ qua đi, song lời ta hẳn chẳng qua đâu.” [Mat.24:35]

Chúng ngươi bảo: mặt kệ lời ta! Việc ngươi làm lâu quá thành quen rồi, cứ làm. “Mặc cho Tin Mừng” (Bước vào Hy Vọng của Giáo Hoàng J.Paul II).

“Hỡi kẻ giả hình! Ê-sai đã nói tiên tri về các ngươi phải lắm, mà rằng: Dân này lấy môi miệng thờ kính ta; nhưng lòng chúng nó xa ta lắm. Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra.” [Mat.15:9]

                         Hay! Hay cho chúng ngươi!
                         Giỏi! Giỏi cho chúng ngươi!
                         Thắng! Chúng ngươi thắng rồi!

Khốn cho các ngươi [Mat.23] Hỡi loài rắn, dòng dõi rắn lục kia. [Mat.23:33]

Hỡi kẻ mù dẫn đường.[Mat.23:24]

Nhà ta phải là nhà cầu nguyện, nhưng các ngươi đã làm cho nó thành hang trộm cướp. [Mat.21:13]

Hỡi kẻ bị rũa sả, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó (Mat.25:41).

Vì ta đã đói, các ngươi không cho ta ăn; ta đã khát, các ngươi không cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng. [Mat.25: 42]

       Satan đã hòng lật đổ nhưng không thắng nổi Cha ta, còn chúng ngươi? Chúng ngươi bất chấp lời ta, chúng ngươi đưa ra lời của chúng ngươi để ngăn chặn lời ta.

       Chúng ngươi đã gọi ta là Ngôi Lời, nhưng Lời ta chúng ngươi lót làm thảm cho vinh quang chúng ngươi. Chúng ngươi đã thắng! Giỏi a!

       Chúng ngươi không e dè trích lại lời ta - dẫn lời ta để khẳng định lời chúng ngươi:

Nay chúng ngươi là Cha! Chúng ngươi là Thầy! Chúng ngươi là Chủ chăn!

       Satan, Lusifer thua chúng ngươi. Chúng ngươi đã hơn chúng một bậc.

       Chúng ngươi không hổ thẹn mà còn vênh vang tự xưng mình là thánh.

       Quá lắm! ngươi gọi Cha ta chỉ là Cha; còn chúng ngươi tự xưng mình là “Thánh Cha”. Satan, Lusifer chỉ là hàng đồ đệ của chúng ngươi.

“Quả thật ta nói cùng các ngươi, ngươi trả còn thiếu một đồng tiền, thì không ra khỏi tù được.” (Mat.5:26)
===========
   (*) “Trên giàn lửa thiêu rực rỡ
          Kẻ tà giáo ghê tởm trút linh hồn”

“Không phải Ngài muốn trở lại trong ánh vinh quang rực rỡ từ Đông sang Tây với những cuộc triển lãm tội ác tầy trời như vậy. Không, Ngài muốn xuống thăm con của Ngài giữa nơi lửa thiêu những kẻ theo tà giáo. Ngài trở lại là người có diện mạo đúng với diện mạo của Ngài ngày xưa. Ngài đi qua các phố tấp nập của tỉnh miền nam ấy [thành phố Sêvi Y Pha Nho]; hôm qua người ta vừa thiêu độ một trăm người theo tà giáo trước mặt vua, cận thần, công thần, giáo chủ và các công nương đẹp nhất triều đình. Ngài từ từ tiến đến, không muốn cho ai để ý đến mình, nhưng kỳ diệu thay, ai cũng nhận ra Ngài. Quần chúng bị lôi cuốn chạy ùa đến và đi theo Ngài. Ngài yên lặng đi giữa đám đông, trên môi, một nụ cười nhân từ vô lượng. Trái tim Ngài tràn đầy tình yêu, mắt Ngài sáng ngời Trí Huệ, hiểu biết và sức mạnh làm tim con người cũng rung động tình yêu. Ngài dang tay đón, ban phép lành; mọi người nắm tay Ngài, sờ áo Ngài để lấy phước. Một ông già lòa từ lúc bé xin với Ngài: “ Xin Ngài chữa mắt cho tôi để tôi được trông thấy Ngài.” Tức thời màng mộng tan hết, ông già trông thấy ánh sáng. Dân chúng mừng rớt nước mắt và quỳ xuống hôn bước chân đi của Ngài. Ngài dừng lại trước thềm giáo đường Sêvi, giữa lúc người ta khiêng đến một cổ quan tài trắng, đứa trẻ bạc phước là con gái một thân hào. Áo quan phủ đầy hoa.
“ Dân chúng reo hò bảo người mẹ đang khóc rưng rức: “ Ngài sẽ cứu con bà sống lại.” Một vị thầy tu đến trước quan tài, cau mày dáng sửng sốt. Người mẹ chạy đến ôm chân Ngài cầu xin: “ Nếu Ngái là Chúa xin Ngài cho con tôi sống lại !” Ngài nhìn cổ quan tài, thương xót lắm, Ngài lại từ từ niệm chú “ Talitha koum”. Đứa con gái sống lại, nó nhỏm dậy ngồi nhìn mọi người chung quanh,

mĩm cười ngạc nhiên, tay cầm bó hoa hồng bạch để trên linh cữu. Giữa lúc ấy giáo chủ Đại Pháp Quan Tôn Giáo tiến lại. Giáo chủ là một ông già gần 80 tuổi, mặt khô đét, mắt sâu hoắm, nhưng còn tia sáng tinh anh. Ông không mặc chiếc áo lộng lẫy mà hôm qua ông đã mặc để dự lễ hỏa thiêu những kẻ thù của Giáo Hội La Mã; ông chỉ mặc chiếc áo thụng cũ bằng vải thô. Người tùy tùng và toán lính của Thánh Đường kính cẩn theo sau, cách khá xa. Giáo chủ dừng lại trông cổ quan tài, đứa con gái hồi sinh, mặt ông sa sầm xuống. Ông cau mày, cặp mắt sáng lên một tia ghê rợn. Ông giơ ngón tay chỉ thẳng vào Ngài và ra lệnh cho quân lính bắt Ngài. Uy quyền của Giáo Chủ rất lớn, dân chúng đã quen phục tòng, run sợ mà nghe lời răm rắp, dân chúng bảo nhau tránh ra xa; quân lính nắm lấy Ngài, điệu Ngài đi giữa chổ vắng lặng như nhà mồ. Mọi người nhất loạt cúi đầu sát đất, vị Đại Pháp Quan Tôn Giáo ban phép lành cho họ, không nói năng gì, rồi ông ung dung ra về. Người ta đưa Ngài về một căn nhà cổ tối tăm trong Thánh Đường, giam vào một phòng nhỏ. Đêm hôm ấy thành Sêvi nóng rực oi bức, không khí thoang thoảng hương hoa nguyệt quế. Bất thần cửa ngục mở ra, vị Đại Pháp Quan xuất hiện, tay cầm bó đuốc. Ông dừng lại trước thềm nhìn khuôn mặt thánh thiện của Ngài rất lâu. Rồi ông lại gần đặt bó đuốc xuống mà rằng: “ Ông đấy à, Ông? ”. Ngài không trả lời, ông lại nói: “Ông đừng nói gì lại hơn, vả chăng, ông biết nói gì bây giờ? Tôi biết rõ lắm. Ông không có quyền nói thêm một lời vào những câu ông đã nói ngày trước. Tại sao ông xuống đây làm phiền chúng tôi? Hẳn ông cũng biết rằng ông làm thế là làm khó dể cho chúng tôi. Ông có biết ngày mai sẽ xảy ra chuyện gì không? Tôi không biết có phải ông thật không hay chỉ là cái bề ngoài của ông. Nhưng ngày mai tôi sẽ lên án ông, và ông sẽ chết thiêu như kẻ tà giáo tồi tệ nhất. Ngày mai tôi chỉ giơ tay lên là đám quần chúng đã hôn tay hôn chân ông sẽ chạy ồ lại đốt giàn hỏa thiêu ông. Ông biết thế không? Có lẽ ông biết. Ông nói đoạn đứng trầm ngâm, mắt vẫn không rời Chúa trời bị giam.”
……………………………………………………..

“ Ông già nín lặng một lát đợi Chúa trả lời. Sự yên lặng ấy nặn nề cho ông lắm. Chúa yên lặng nghe ông nói, chỉ nhìn ông với cặp mắt bình tĩnh và sâu sắc, Chúa đã quyết định không trả lời. Ông già muốn Chúa nói vài lời, dù là lời chua chát và ghê gớm. Bất thần Chúa lại gần ông già và hôn đôi môi lợt lạt của ông. Đó là câu trả lời của Chúa. Ông già rùng mình, tiến lại cửa mở ra và bảo Chúa: “ Chúa đi đi, đừng bao giờ trở lại đây nữa!
Chúa lững thửng đi vào thành phố tối tăm…”

[ DOSTOIEVSKI – “anh em nhà KARAMAZOV” – VŨ ĐÌNH LƯU dịch – NGUỒN SÁNG xb. Trích đoạn trong cuốn 2/5: các trang 282-283-284 và 302 ]